DỰ ÁN TRANG TRẠI TRỒNG LAN SINH HỌC NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO

Đầu tư Trang trại trồng lan sinh học nông nghiệp công nghệ cao quý hiếm tại Việt Nam theo hình thức liên kết nhận chuyển giao toàn bộ công nghệ của học viện nông nghiệp và có sự giúp đỡ hợp tác của các giáo sư tiến sỹ đầu ngành của học viện nông nghiệp.

Ngày đăng: 22-12-2021

424 lượt xem

DỰ ÁN TRANG TRẠI TRỒNG LAN SINH HỌC NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO

Dự án trang trại trồng lan sinh học nông nghiệp công nghệ cao

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHỦ ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN

I.1 Giới thiệu chủ đầu tư

Bà Mai

-  Điện thoại:            

-  Giấy chứng minh nhân dân số ………. do …………. cấp ngày …………….

Địa chỉ thường trú: …………….

Ngành nghề kinh doanh chính:

Trồng hoa Lan, rau, đậu các loại và trồng hoa, cây cảnh, trồng lúa, trồng cây ăn trái, cây nông nghiệp công nghệ cao.....

Xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật; Thi công trang trí cảnh quan công trình, trang trại.

Mua bán xuất nhập khẩu hàng nông sản, cây cảnh các loại, bán buôn hoa và cây, cây cảnh, cây công trình…

I.2 Đơn vị tư vấn lập dự án đầu tư xây dựng công trình

Công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và Thiết kế xây dựng Minh Phương

Địa chỉ: 28 B Mai Thị Lựu, phường ĐaKao, quận 1, Tp.HCM.

Điện thoại: (08) 22142126   ;           Fax:   (08) 39118579

I.3 Mô tả sơ bộ dự án

Tên dự án: Trang trại trồng Lan sinh học nông nghiệp công nghệ cao

Địa điểm:  thành phố Hải Phòng.

Quỹ đất của dự án: 2.300 m2 thuộc quyền sử dụng của Bà Mai góp vốn vào dự án theo hình thức thuê đất.

Mục tiêu đầu tư:

Đầu tư Trang trại trồng lan sinh học nông nghiệp công nghệ cao quý hiếm tại Việt Nam theo hình thức liên kết nhận chuyển giao toàn bộ công nghệ của học viện nông nghiệp và có sự giúp đỡ hợp tác của các giáo sư tiến sỹ đầu ngành của học viện nông nghiệp.

Đầu tư hệ thống trang trại trồng Hoa Lan quy mô công nghiệp, tận dụng lợi thế nguồn lực về đất, công nghệ để bán tại thị trường tiềm năng Việt Nam, các tỉnh phía Bắc, Hải phòng, Hà Nội.

Phát triển thành trung tâm cung cấp sản phẩm hoa lan sinh học nông nghiệp công nghệ cao cho thị trường. Xây dựng để cung cấp giống, cây trồng, nông nghiệp công nghệ cao cho nhu cầu sản xuất của nhân dân trong vùng tỉnh, các tỉnh lân cận cũng như một số khách hàng của công ty trong cả nước và giúp bảo tốn một số gen, giống cây trồng quý hiếm, giữ được thuần chủng mang đúng bản vị của sản phẩm độc đáo của dân tộc.

Sản xuất theo tiêu chuẩn sạch và an toàn sinh học như sử dụng biện pháp quản lý dinh dưỡng và quản lý dịch hại bằng biện pháp sinh học theo hướng bền vững.

Dự án có khu bảo tồn phát triển giống lan quý của địa phương như Lan Ngọc Điểm, địa lan Hoàng vũ, Thanh ngọc đại hoàng, Mạc biên, Tố tâm , Nhất điểm, Hội điểm, Yến vĩ , Tứ quý đông kiều, Phi điệp, Đại kiều, Kim biên , Ngần biên....

Quy mô: sau 2 năm trang trại trồng đạt 2.300 m2 Hoa Lan công nghiệp.

Tổng vốn đầu tư khoảng: 2 tỷ đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng). Trong đó: vốn chủ sở hữu của chủ đầu tư là 2 tỷ đồng.

Thời gian hoạt động của dự án: 50 năm.

Tiến độ thực hiện dự án:

Thời gian chuẩn bị đầu tư dự án  đến tháng 5 năm 2022.

Thời gian xây dựng dự án  đến tháng 12 năm 2022.

Thời gian vận hành sản xuất kinh doanh: từ tháng 01 năm 2023.

Thời gian cung cấp sản phẩm tiêu thụ: tháng 6 năm 2023.

Hình thức đầu tư: Đầu tư xây dựng mới

Hình thức quản lý:

Bà Mai trực tiếp quản lý dự án.

Quá trình hoạt động của dự án được sự tư vấn của các chuyên gia trong nước và nước ngoài về quy hoạch trồng cây Hoa Lan công nghiệp quy trình chăm sóc, phân bón và tưới tiêu …

I.4 Cơ sở pháp lý triển khai dự án

Quyết định số 899/2013/QĐ-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Chỉ thị số 9/CT-TTg ngày 25 tháng 4 năm 2014 về việc chỉ thị khẩn trương triển khai thực hiện nghị định số 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn.

I.5 Tiềm năng ngành sản xuất hoa lan ở Việt Nam

I.5.1 Sự tăng trưởng của nền kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam những năm qua phát triển vượt bậc đã nâng cao mức sống của người dân nhất là dân cư các thành phố lớn trong cả nước. Do đó nhu cầu tiêu dùng hoa cắt cành trong đó có hoa lan ngày càng tăng. Hầu hết hoa lan được trồng và tiêu thụ trong nước nhất là vào các dịp lễ hội như Tết, Giáng sinh, ngày Phụ nữ, Quốc khánh, ngày Nhà giáo, Sinh nhật, Hội nghị khách hàng...

Hiện nay Việt Nam đã là thành viên của WTO tạo điều kiện cho ngành sản xuất hoa lan của Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế trong các lĩnh vực: kỹ thuật trồng, lai tạo giống, nhân giống (cấy mô), bảo quản sau thu hoạch... để thúc đẩy công nghiệp hoa lan phát triển.

Tuy công nghiệp hoa lan ở Việt Nam chưa được quy hoạch trong chiến lược phát triển kế hoạch 5 năm của quốc gia nhưng xu hướng phát triển của hoa lan lại rất nhiều triển vọng vì hầu như cung không đủ cầu: làn sóng đầu tư đổ vào Việt Nam trong đó có Mỹ, Nhật, Trung Quốc và các quốc gia khác, các vùng đang tạo một cảnh quan du lịch sinh thái, các hội nghị quốc gia cũng như các diễn đàn quốc tế tổ chức tại Việt Nam với tần suất ngày càng tăng khiến cho nhu cầu hoa lan tăng thêm và hầu như Việt Nam hàng năm phải chi ra hàng tỷ đồng để nhập khẩu hoa lan từ các nước láng giềng cũng chỉ để đáp ứng cho thị trường nội địa.

I.5.2 Thu nhập từ trồng hoa lan

Hiệu quả kinh tế nói chung của vườn lan cao hơn các loại cây trồng nông nghiệp khác; nhất là tại những vùng đất sản xuất nông nghiệp không hiệu quả như đất bạc màu vì cây lan không cần đến đất. Đặc biệt Việt Nam là nơi tập trung trồng ngô, lúa một vụ chính là cơ hội tốt nhất để cây lan phát triển. Xơ dừa là vật liệu rẻ tiền giúp cho việc đầu tư vào sản xuất giảm đi rất nhiều so với các quốc gia khác. Các vật liệu khác như lưới che mát, than, tre nứa cũng đã sản xuất được ở Việt Nam góp phần làm giảm chi phí đầu tư cho người sản xuất.

Hiện nay người trồng lan có thu nhập cao gấp nhiều lần so với người trồng lúa, gấp 4 - 5 lần so với người trồng rau cải, cỏ cho chăn nuôi... Theo số liệu thống kê của vụ kế hoạch thuộc Bộ NN & PTNT nếu trồng lan cắt cành Dendrobium và Mokara 1ha có thể cho doanh thu 800 triệu - 2 tỉ đồng/ha/năm.

I.5.3 Điều kiện khí hậu, lao động, đất đai

Hải Phòng là tỉnh miền núi có khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm cao nên thích hợp cho việc trồng các giống Dendrobium và Mokara. Đặc biệt là việc trồng Mokara cho thấy Mokara tăng trưởng và ra hoa tốt hơn trồng tại Thái Lan.

Ngoài ra, lực lượng lao động cho việc trồng lan không cần nhiều, có thể sử dụng lực lượng nông nhàn để theo dõi, chăm sóc cho cây hoa cũng là một lợi thế cho ngành hoa lan Việt Nam. Những vùng đất phèn nặng hoặc bạc màu là địa điểm thích hợp để người dân chuyển đổi từ sản xuất trồng lúa hoặc hoa màu cho thu nhập thấp sang trồng hoa lan cho thu nhập cao. Việc đưa vào quy hoạch những vùng cần chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng sẽ giúp cho hàng ngàn nông dân thay đổi tập quán canh tác từ cây lúa, cây rau sang cây hoa có giá trị kinh tế cao.

I.6 Các nhân tố ảnh hưởng chính đến sự phát triển công nghiệp hoa lan Việt Nam

I.6.1 Giống Hoa Lan

Để nhân nhanh các giống lan, phương pháp nhân giống bằng nuôi cấy mô đang được các quốc gia trên thế giới áp dụng. Việt Nam cũng có các phòng nuôi cấy mô nhưng ở quy mô nhỏ, nên nguồn giống chủ yêu là nhập từ Thái Lan, Đài Loan và một vài quốc gia Tây Âu như Bỉ, Hà Lan... Vì vậy giống lan tại Việt Nam tùy thuộc rất nhiều vào nguồn giống ngoại nhập. Đây là một thực tế đáng lo ngại cho ngành sản xuất hoa lan của Việt Nam nếu tương lai Việt Nam tham gia vào thị trường xuất khẩu hoa lan trên thế giới.

Việc nhập khẩu giống từ các nguồn khác nhau gây ra nhiều vấn đề khó khăn cho sự phát triển của ngành công nghiệp hoa lan như chất lượng hoa, sâu bệnh lan truyền qua nhập khẩu và bản quyền tác giả... sẽ làm cho giá thành của hoa lan Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực và rủi ro trong nuôi trồng cũng nhiều hơn.

I.6.2 Công nghệ sinh học

Khi trồng các loại hoa cắt cành như hồng, cúc, cẩm chướng... sau khi thu hoạch nông dân Việt Nam có xu hướng giữ lại hạt làm giống cho vụ sau. Trái lại việc nhân giống hoa lan phải nhờ đến công nghệ sinh học. Hiện nay cũng có vài công ty tư nhân đang đầu tư trong lĩnh vực cấy mô, lai tạo giống phong lan Dendrobium, Mokara hay Oncidium để tạo ra nguồn giống riêng của Việt Nam mặc dù hướng nghiên cứu gene phong lan ở Việt Nam chưa được chú ý đến. Tuy nhiên, nếu việc lai tạo các giống phong lan thành công thì đây là bước khởi đầu cho công nghiệp hoa lan Việt Nam và cần được sự hỗ trợ của nhiều ngành khoa học đặc biệt là công nghệ gene trong nông nghiệp.

I.6.3 Công nghệ canh tác, sản xuất hoa lan

Tuy hoa lan không cần đất để phát triển nhưng việc ứng dụng công nghệ canh tác tiên tiến rất quan trọng với mục đích tạo ra những hoa lan có màu sắc, kích thước, số lượng hoa trên cành, tính bền, khả năng ra hoa và tính kháng bệnh của cây với chất lượng cao và giá thành thấp.

Vai trò của hoa lan và hoa cắt cành ở Việt Nam mới chỉ trở nên quan trọng trong những năm gần đây, nhưng các quy trình công nghệ tiên tiến áp dụng trong lĩnh vực hoa lan chưa được chọn lọc và nghiên cứu đầy đủ trong điều kiện sinh thái của Việt Nam. Hầu hết là học tập và mô phỏng theo cách trồng của Thái Lan ở quy mô cá thể với diện tích chưa đủ lớn để tạo ra sự thay đổi sâu sắc trong tập quán trồng hoa của nông dân Việt Nam, trong đó vấn đề sâu bệnh hại là yếu tố quyết định cho sản xuất lan công nghiệp.

Đa số nông dân Việt Nam trồng hoa lan ở quy mô hộ gia đình từ vài m2 đến vài ngàn m2, cá biệt có vài hộ sản xuất kinh doanh trồng trên 1-2ha. Chính do quy mô nhỏ lẻ và nguồn giống phân tán nhập từ nhiều nguồn khác nhau nên đã dẫn đến chất lượng hoa lan không đồng đều, số lượng trên mỗi giống hoa không đủ cho thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu trong tương lai.

I.6.4 Công nghệ sau thu hoạch

Hoa lan là sản phẩm của ngành nông nghiệp (khác với lan rừng thu hái từ tự nhiên) nên nó cần một công nghệ bảo quản sau thu hoạch để giữ cho hoa bền, lâu tàn. Trong điều kiện khí hậu Việt Nam thích hợp cho việc canh tác hoa lan nhiệt đới thì cũng chính khí hậu nóng ẩm của ta cũng dễ ảnh hưởng đến chất lượng hoa lan. Đa số nông dân cắt hoa và giao hoa ngay trên những phương tiện vận chuyển thô sơ, không có kho mát hay phòng mát và cũng chưa có dụng cụ chứa dinh dưỡng để cắm mỗi cành hoa vào để giữ cho hoa lâu tàn.

I.6.5 Thị trường và các biện pháp xúc tiến thương mại

Hoa lan và các loại hoa cắt cành khác đang được phân phối trên thị trường trong nước qua các kênh bán sỉ tại các chợ đầu mối hoa như chợ Hồ Thị Kỳ, Q.10. Các cửa hàng kinh doanh hoa mua trực tiếp từ các vườn hoặc thông qua các cơ sở tư nhân thu gom từ các vườn lan. Hiện nay tuy chưa có một tổ chức hay doanh nghiệp nào đứng ra tổ chức hệ thống thu mua và phân phối hoa lan cho thị trong nước, nhưng các hộ kinh doanh hoa, các cửa hàng bán hoa đã rất nhạy bén nắm bắt tâm lý của người trồng hoa là cần có đầu ra ổn định nên đã có những thỏa thuận ở mức sơ khai của hình thức hợp đồng kinh tế, lấy uy tín là chính và việc đặt cọc tiền giữa 2 bên chỉ có giá trị tượng trưng cho sự thỏa thuận giữa hai bên. Cho đến hiện nay chưa có hợp đồng nào có giá trị ở mức cao và cũng chưa có thỏa thuận nào bị “bể” giữa bên bán và mua do cầu lúc nào cũng cao hơn cung đối với hoa lan.

So với các quốc gia trong khu vực, hoa cắt cành của Việt Nam cũng đã có thị trường xuất khẩu và mức tăng trưởng hàng năm đều tăng cao hơn so với năm trước. Tuy nhiên đối với hoa lan, nhất là hoa lan nhiệt đới thị trường xuất khẩu vẫn còn là thị trường tiềm năng. Để có thể tiến vào thị trường hoa lan cắt cành hay lan chậu của thế giới, ngành công nghiệp hoa lan Việt Nam còn rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm.

I.6.6 Các thách thức trong quá trình phát triển

Mặc dù các cơ hội phát triển hoa lan Việt Nam là rất lớn nhưng các nhân tố đó cũng chính là những thách thức cần được quan tâm cho sự phát triển của ngành công nghiệp hoa lan còn non trẻ của Việt Nam như:

- Sản xuất lai tạo giống lan trong nước bằng phương pháp nuôi cấy mô chưa có đột phá mới. Phần lớn các phòng cấy mô chỉ cấy chuyền các giống nhập từ nước ngoài ở dạng chồi/phôi, do đó ngành kinh doanh lan Việt Nam luôn bị động và có xu hướng hập khẩu là chính.

- Chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng còn cao nên việc mở rộng diện tích trồng lan cần phải có sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức tín dụng.

- Chưa có công nghệ sản xuất tiên tiến, sản xuất canh tác hoa ổn định không theo mùa vụ sẽ giúp bình ổn giá hoa trên thị trường.

- Công nghệ sau thu hoạch và kỹ thuật đóng gói phù hợp chưa sẵn sàng.

- Chi phí lao động có kỹ thuật tăng cao.

- Dịch vụ hậu cần tại các cảng xuất hàng còn yếu kém như chưa có kho mát tại sân bay.

- Các yêu cầu kiểm dịch nghiêm ngặt của các nước nhập khẩu hoa trong khi Việt Nam chưa có hệ thống và biện pháp kiểm tra hoa nhập khẩu từ các nước khác.

- Hệ thống thông tin, tiếp thị hầu như chưa có nên rất khó khăn trong việc hoạch định sản xuất theo nhu cầu thị trường.

- Công nghiệp hoa lan chưa được quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền nên chưa có những biện pháp hỗ trợ, thúc đẩy ngành hoa lan phát triển.

I.6.7 Một số các biện pháp chiến lược phát triển ngành hoa lan Việt Nam

I.6.7.1 Giải pháp về giống

- Lai tạo, chọn lọc giống mới theo phương pháp nhân giống truyền thống: Nỗ lực tiến hành các biện pháp lai chéo giữa các giống lan với nhau để tạo ra các giống mới. Phương pháp lai vẫn tiến hành trên nền tảng di truyền cổ điển, tuy nhiên để giảm thiểu chi phí và thời gian, công nghệ sinh học phân tử cần tham gia vào ở giai đoạn mầm chồi để xác định các tổ hợp lai mới.

 

cây giống hoa lan

 

- Kỹ thuật gene: áp dụng thành tựu chọn lọc gene trong nông nghiệp, nghiên cứu chọn lọc gene phong lan bằng các kỹ thuật gene.

- Nhân giống đột biến: chọn những cây lai đột biến mang các tính trạng nổi bật phù hợp với thị trường và nhân giống vô tính bằng phương pháp cấy mô.

 

Đầu tư Trang trại trồng lan sinh học nông nghiệp công nghệ cao quý hiếm tại Việt Nam

 

I.6.7.2 Áp dụng thành tựu của các nước trong khu vực về canh tác hoa lan như

Khuyến khích sử dụng giá thể xơ dừa + than vụn hoặc giá thể bằng vỏ đậu phộng. Áp dụng sản xuất theo GAP để bảo vệ môi trường và kiểm soát sâu bệnh đúng cách.

I.6.7.3 Công nghệ bảo quản sau thu hoạch và dịch vụ hậu cần

- Ngành nhựa cần quan tâm đến việc cung cấp các tube (ống) chứa dụng dịch bảo quản hoa sau khi cắt khỏi cành. Nghiên cứu các công thức bảo quản hoa phù hợp với điều kiện vận chuyển tại Việt Nam.

I.6.7.4 Các hỗ trợ về cơ sở hạ tầng

Các phương tiện thiết bị chuyên dùng cho ngành hoa, các kênh thông tin, tiếp thị sản phẩm giúp người trồng dự đoán được giá cả, nhu cầu thị trường để tự hoạch định sản xuất.

I.6.7.5 Các văn bản luật, các tiêu chuẩn sản phẩm

Cần được ban hành trong thời gian ngắn nhất để người trồng tiếp cận, tránh được rào cản về thuế quan, kiểm dịch thực vật nghiêm ngặt của các nước nhập khẩu.

I.6.7.6 Nguồn nhân lực

Lực lượng lao động trong các lĩnh vực sản xuất, sau thu hoạch, xếp dỡ, phát triển sản phẩm, công nghệ sinh học, kỹ thuật gene, đấu giá ... cần phải được đào tạo nhanh chóng vì điều này có thể trở thành khiếm khuyết nghiêm trọng trong sự cạnh tranh mạnh mẽ toàn cầu khi nước ta là thành viên WTO.

I.6.7.7 Hỗ trợ tín dụng

Ngành hoa lan cần vốn khá lớn và thời gian khá dài để phát triển do đó cần được các tổ chức tín dụng quan tâm hỗ trợ.

Tuy ngành sản xuất hoa lan Việt Nam còn khoảng cách rất xa so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia... nhưng tương lai của hoa lan Việt Nam rất xán lạng do vẫn còn nhiều quỹ đất để phát triển, nguồn gene lan rừng rất quí báu dồi dào nhưng chưa được khai thác, con người Việt Nam thông minh chịu khó và nắm bắt rất nhanh công nghệ tiên tiến.

Trước hết ngành sản xuất hoa lan cần mở rộng sản xuất cung cấp cho thị trường nội địa, sử dụng các giống lai tạo mới, sử dụng hiệu quả các thành tựu của công nghệ sinh học. Chính phủ cần khuyến khích nông dân chuyển đổi diện tích cây trồng thu nhập thấp sang trồng lan với các chính sách hỗ trợ về vốn, công nghệ sản xuất chuyên sâu. Kêu gọi các Doanh nghiệp tư nhân tham gia tích cực vào lĩnh vực công nghệ sinh học và di truyền cho ngành công nghiệp hoa lan nhằm cải thiện chất lượng sản phẩm làm động lực cho sự phát triển của ngành. Chính phủ cũng cần tăng cường công tác thị trường và năng lực thị trường bằng cách hợp tác giữa khu vực tư nhân và các tổ chức nhà nước để quản bá sản phẩm và thâm nhập thị trường mới.

CHƯƠNG II: MỤC TIỀU VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẦU TƯ

II.1.1 Mục tiêu của dự án

Nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai, lao động và huy động các nguồn lực để phát triển trồng Hoa Lan có hiệu quả, phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện nhiệt đới nóng ẩm của Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng. Ứng dụng có hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất từ khâu giống, chăm sóc và bảo quản sản phẩm, đảm bảo môi trường sinh thái và đồng thời góp phần cung cấp cho thị trường các sản phẩm hoa lan sinh học nông nghiệp công nghệ cao. Phổ biến rộng rãi kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến và đáp ứng được nhu cầu cây giống có chất lượng cao cho việc phát triển nông nghiệp trong vùng, góp phần tăng thu nhập cho nông dân và giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn. Từng bước đưa trồng Hoa Lan công nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp của tỉnh trong những năm đến. Tạo sự gắn kết giữa trang trại và người trồng Hoa Lan, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

Liên kết nhận chuyển giao toàn bộ công nghệ của học viện nông nghiệp Việt Nam để được chuyển giao cây giống tốt, công nghệ nông nghiệp hiện đại, công nghệ gây và giữ giống, và phương thức quản lý mới có hiệu quả, xây dựng dự án nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao. Khai thác có hiệu qủa hơn tiềm năng về: đất đai, lao động và sinh thái của khu vực tỉnh Hải Phòng cũng như các vùng phụ cận của khu vực để phát triển chăn trồng Hoa Lan. Là trung tâm cung cấp giống, các dịch vụ nông nghiệp hiện đại cho các hợp tác xã, các hộ nông nghiệp gia đình trong khu vực. Cung cấp cho xã hội một khối lượng Hoa Lan xuất khẩu có chất lượng cao. Phổ biến rộng rãi kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến và đáp ứng được nhu cầu cây giống có chất lượng cao cho việc phát triển Trang trại trồng Lan sinh học nông nghiệp công nghệ cao của vùng.

Dự án trồng Hoa Lan ứng dụng công nghệ cao xuất khẩu phục vụ vùng trồng Hoa Lan tập trung, với quy mô lớn nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa phục vụ cho các nhu cầu chế biến, xuất khẩu. Ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học của các giáo sư tiến sỹ đầu ngành của học viện nông nghiệp để xây dựng quy trình. Sản xuất theo tiêu chuẩn sạch và an toàn như sử dụng biện pháp quản lý dinh dưỡng và quản lý dịch hại bằng biện pháp sinh học theo hướng bền vững.

II.1.2 Khả năng cung ứng nguồn nguyên liệu:

Việt Nam là nước nhiệt đới và cũng là một trong những xứ sở của Hoa Lan với nhiều giống Hoa Lan rất quý…Các giống Hoa Lan của Việt Nam không chỉ phong phú về kích cỡ, sắc màu mà còn có những giá trị sử dụng rất khác nhau. Hoa Lan cũng là loại cây có diện tích và sản lượng cao trong các loại hoa hiện nay.

Tuy nhiên diện tích trồng Hoa Lan của ta lại không tập trung với quy mô công nghiệp. Người dân chủ yếu trồng với diện tích nhỏ, manh mún, chưa có quy hoạch vùng tập trung. Một số công ty thu mua Hoa Lan xuất khẩu từ các hộ nông dân rải rác nên chi phí thu mua và vận chuyển cao. Không chỉ vây, trong quá trình vận chuyển hoa quả từ các vườn đến nơi tiêu thu do thiếu sự cẩn trọng nên Hoa Lan không thể giữ nguyên được hình thức và cũng chưa có biện pháp bảo quản thích hợp nên xuất khẩu cũng giảm giá trị, khó đáp ứng nhu cầu thị trường. Qua nghiên cứu cho thấy, cây Hoa Lan là loại cây trồng ngắn ngày rất dễ trồng, không tốn công chăm sóc lại thu hoạch thường xuyên trong năm, không phải đợi đến mùa vụ như loại hoa khác. Mặt khác, Việt Nam là xứ sở của Hoa Lan, cây Hoa Lan ở nước ta đã có từ lâu, hàng ngàn năm về trước, nhưng chúng ta chưa khai thác hết giá trị tiềm năng trong cây Hoa Lan. Cây Hoa Lan là loại cây ở vùng nhiệt đới. Theo nghiên cứu và đánh giá nhận định trồng cây Hoa Lan tạo được mảng xanh có lợi cho môi trường, cũng nhằm chống biến đổi khí hậu.

II.1.3 Sự cần thiết đầu tư

 “Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế- xã hội tỉnh Hải Phòng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” đã đưa ra hiện trạng và định hướng phát triển về nông nghiệp trong địa bàn tỉnh trong đó có định hướng cụ thể về việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Hải Phòng có diện tích đất nông nghiệp tương đối lớn, điều kiện thổ nhưỡng phù hợp cho việc phát triển vùng nguyên liệu của dự án Trang trại trồng Lan sinh học nông nghiệp công nghệ cao. Điều kiện khí hậu, thời tiết của Hải Phòng tương đối ôn hòa, có lượng mưa trung bình hàng năm lớn, phù hợp với việc phát triển cây Hoa Lan theo mô hình công nghiệp.

Trong kế hoạch, Bà Mai sẽ xây dựng theo mô hình trang trại nông nghiệp kiểu mẫu quy mô 2.300 m2 đất trồng Hoa Lan đáp ứng nhu cầu nhân dân trong và ngoài tỉnh và xuất khẩu ra thị trường trong nước.

Đối với chủ đầu tư đây là một dự án lớn, có tỷ suất sinh lời cao nên sẽ mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho chủ đầu tư. Đặc biệt qua dự án vị thế, uy tín và thương hiệu của chủ đầu tư sẽ tăng cao, tạo dựng thương hiệu mạnh trong lĩnh vực kinh doanh nông sản tạo một phần thu nhập từ dự án cho địa phương. Như vậy, từ thực tiễn khách quan nêu trên có thể nói việc đầu tư xây dựng Trang trại trồng Lan sinh học nông nghiệp công nghệ cao là tất yếu và cần thiết, vừa thoả mãn được các mục tiêu và yêu cầu phát triển của tỉnh Hải Phòng vừa đem lại lợi nhuận cho chủ đầu tư.

 

CHƯƠNG III: ĐỊA ĐIỂM ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TRANG TRẠI

III.1 Mô tả địa điểm xây dựng và lựa chọn địa điểm

- Có mặt bằng đủ diện tích xây dựng với các điều kiện không bị ngập nước do lũ lụt, đảm bảo tính kinh tế trong san lấp mặt bằng, thuế đất và gần nguồn cung cấp điện, nước, giao thông thuận tiện và tận dụng được các cơ sở hạ tầng sẵn có.

- Điều kiện kinh tế xã hội bảo đảm phù hợp cho công việc sản xuất, kinh doanh, giao dịch, tiếp cận thị trường.

III.2 Phân tích địa điểm xây dựng dự án

- Hiện trạng đất đầu tư: Công ty hiện xin chấp thuận 2.300 m2 tại địa bàn phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để thực hiện dự án đầu tư.  Vị trí dự án có tứ cận được xác định như sau:

Phía đông tiếp giáp đường nhựa;

Phía tây tiếp giáp đất của dân;

Phía nam tiếp giáp đường nhựa;

Phía bắc tiếp giáp đường bê tông.

Dự án dự kiến có diện tích khoảng 2.300 m2 đất tại địa bàn thị xã Tân Uyên. Đây là khu vực thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp tập trung. Chủ đầu tư sẽ tiến hành liên doanh, liên kết với người dân vùng xung quanh dự án thuê đất để đảm bảo đủ quỹ đất phát triển dự án.

- Về giao thông: Khu vực thực hiện dự án có hệ thống giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, nguyên liệu đầu vào cũng như xuất khẩu hàng hóa.

- Khu vực phụ cận, cách khu đất là đồng bằng đang được người dân sử dụng để trồng lúa; thuận lợi cho việc hình thành vùng nguyên liệu sau này.

- Khi thiết kế xây dựng vùng dự án, sẽ tiến hành làm mới các trục đường chính và các đường bao lô xung quanh để thuận tiện cho việc bón phân, chăm sóc cũng như để vận chuyển sản phẩm của Công ty.

- Về hạ tầng điện: Hệ thống đường điện của phường Lạch Tray.

- Về nguồn nước: Khu vực thực hiện dự án có nguồn nước thuận lợi cho việc khai thác nước phục vụ tưới tiêu của dự án.

III.3 Nhận xét địa điểm xây dựng dự án

- Địa điểm này đảm bảo các điều kiện cơ bản  cho việc xây dựng dự án mới, ít tốn kém và không ảnh hưởng đến đời sống xã hội trong vùng, phù hợp với đặc điểm về quy hoạch và kế hoạch phát triển nông nghiệp.

- Điều kiện kinh tế xã hội bảo đảm phù hợp cho công việc sản xuất, kinh doanh, giao dịch, tiếp cận thị trường.

- Tuy nhiên do mới bắt đầu hình thành nên hạ tầng cơ sở chưa thể hoàn chỉnh ngay khi bắt đầu thực hiện Dự án.

III.4 Hiện trạng sử dụng đất

Nền đất tại khu vực dự án

Hiện trạng khu đất chủ yếu là đất nông nghiệp phù hợp cho việc phát triển trang trại nông nghiệp.

Công trình kiến trúc khác

Trong khu đất đầu tư xây dựng là đất nông nghiệp không có các công trình công cộng,

III.5 Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật

            Đường giao thông

Khu vực đầu tư xây dựng có trục đường giao thông chính là đường liên thôn xã, huyện, và có đường giao thông đi qua dự án.

Hệ thống cấp nước :Trong khu vực trang trại dự kiến hiện nay sẽ sử dụng hệ thống nước được xử lý từ giếng khoan.

III.6 Nhận xét chung về hiện trạng

Địa điểm này đảm bảo các điều kiện cơ bản  cho việc xây dựng dự án mới, ít tốn kém và không ảnh hưởng đến đời sống xã hội trong vùng, phù hợp với đặc điểm về quy hoạch và kế hoạch phát triển nông nghiệp.

Dự án đầu tư xây dựng Trang trại trồng Lan sinh học nông nghiệp công nghệ cao nằm trong khu vực quy hoạch sử dụng quỹ đất để phát triển nông nghiệp, thực phẩm sạch; chuyển quyền sử dụng đất cho chủ đầu tư. Với tầm quan trọng to lớn về vị trí, chức năng hiện trạng thực tế đất đai chưa được khai thác đúng mức, thì việc phát triển một trang trại trồng Hoa Lan, với các tiêu chuẩn hiện đại thích ứng với nhu cầu trước mắt và lâu dài của người dân tại Hải Phòng và cả nước là tất yếu và cần thiết. 

 

Xem thêm các dự án đầu tư khác

 

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM

Chi nhánh: 109 Chung cư B1, số 2 Trường Sa, P.17, Q. Bình Thạnh, TPHCM

ĐT: (028) 35146426  – Fax: (028) 39118579 - Hotline 090 3649782